|
Khả năng thanh toán:
Tỷ số này trong hai năm 2007 và 2008 đều rất tốt (2007: 1.13 lần, 2008: 1.23 lần). Mặc dù công ty có sự biến động lớn về vốn chủ, tổng tài sản tăng mạnh, sự thay đổi trong cơ cấu quản lý cũng như phương thức hoạt động kinh doanh do công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ-con, mở rộng quy mô.
Điều này cho thấy khả năng quản lý của ban lãnh đạo là khá tốt. Năng lực thanh toán những khoản nợ ngắn hạn của PVX là hiệu quả. Khả năng thanh toán nhanh của công ty ở mức 0.8 lần cũng là con số chấp nhận được.
Cơ cấu vốn:
Nợ phải trả chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng tài sản của PVX trong năm 2007 ở mức 78.1%. Sang năm 2008, tỷ trọng này đã giảm xuống 56.2%. Việc chuyển đổi mô hình hoạt động cũng ảnh hưởng đến các khoản nợ của PVX khi công ty có hơn 32 công ty con và các công ty liên doanh, liên kết. Hiệu quả của việc sử dụng đòn bẩy tài chính của công ty không tốt so với các doanh nghiệp cùng ngành như LCG—Licogi 16 niêm yết trên HOSE.
Khả năng sinh lời:
Hiệu quả sinh lời của năm 2008 giảm so với năm 2007 tính trên cả hai chỉ tiêu ROA và ROE (năm 2007 là 2.4% và 11%). Hiệu quả sinh lời trên một đồng tài sản chỉ đạt có 2.29% và trên đồng vốn chủ đạt 5.43% vào năm 2008, trong khi LCG quy mô nhỏ hơn lại có ROA là 12.07% và ROE là 26.39%.
Chỉ số P/E được đánh giá khá cao – 19.8 lần, cao nhất so với hai công ty đã niêm yết là FPC—Full Power và LCG
|